Hôm nay Thứ Bảy, 24th Tháng Mười 2020
360 Độ Game

Trang Tin Game Số #1 Việt Nam

[Ôn Thi Đại Học Môn Văn Phần 3] Phân tích 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc

Cảm nhận đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Hướng dẫn lập dàn ý

I. MỞ BÀI
Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Việt Bắc có nhiều đoạn thơ hay mà tiêu biểu là đoạn thơ sau:
“Mình về mình có nhớ ta

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
 
II. THÂN BÀI
1. Khái quát: – Việt Bắc là khu căn cứ địa kháng chiến được thành lập từ năm 1940, gồm sáu tỉnh viết tắt là “Cao – Bắc – Lạng – Thái – Tuyên – Hà”. Nơi đây, cán bộ chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc đã có mười lăm năm gắn bó keo sơn, nghĩa tình (1940 – 1954).
– Sau hiệp định Giơnevơ, tháng 10.1954, Trung ương Đảng và cán bộ rời Việt Bắc. Buổi chia tay lịch sử ấy đã trở thành niềm cảm hứng cho Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Trải dài khắp bài thơ là niềm thương nỗi nhớ về những kỷ niệm kháng chiến gian khổ nhưng nghĩa tình.
2. Nội dung cảm nhận
a. Bốn câu thơ mở đầu là lời của Việt Bắc hỏi người ra đi, khơi gợi kỷ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình.
– Mở đầu là câu hỏi tu từ. Trong câu hỏi này, “Mình” là chỉ người ra đi, “Ta” là chỉ người ở lại.
+ “Mười lăm năm ấy” là trạng ngữ chỉ thời gian, đó là thời gian chỉ độ dài gắn bó nhớ thương vô vàn giữa người đi kẻ ở. Bốn chữ “thiết tha mặn nồng” đã cho thấy tình cảm giữa Việt Bắc và người cán bộ thật thủy chung sâu nặng, keo sơn bền chặt.
– Hai câu sau là lời nhắc nhở chân tình, lời dặn dò kín đáo mà rất đỗi thiết tha. Câu thơ có hai hình ảnh “núi” và “nguồn” là sự vận dụng rất linh hoạt và tài tình của Tố Hữu với câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là lời nhắc nhở, dặn dò kín đáo rất đỗi chân thành: Việt Bắc là cội nguồn Cách mạng, là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến. Xin người về đừng quên cội quên.
b. Bốn câu thơ tiếp theo là tiếng lòng của người về xuôi mang bao nỗi nhớ thương, bịn rịn:
– “Bâng khuâng” có nghĩa là nhớ nhung, luyến tiếc, buồn vui lẫn lộn (buồn vì phải xa VB, vui vì được trở lại quê hương của mình) mà buồn nhiều hơn vui. “Bồn chồn” là từ láy diễn tả tâm trạng cảm xúc day dứt, hồi hộp, nôn nao trong lòng khiến cho bước chân đi cũng ngập ngừng, bịn rịn không muốn chia xa .
– Buổi chia tay ấy có hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân ly”. “Áo chàm” là màu áo nghèo khổ, bình dị của người dân Việt Bắc, là hình ảnh hoán dụ để chỉ con người Việt Bắc. Đó là những con người nghèo khổ “hắt hiu lau xám” nhưng luôn “đậm đà lòng son” thủy chung, mặn nồng.
– Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” đầy tính chất biểu cảm. “Biết nói gì hôm nay…” không phải là không có gì để nói. Không nói được vì xúc động nghẹn ngào không thốt được nên lời. Những lời không nói ấy có lẽ đã nằm hết trong ba chữ “Cầm tay nhau”. “Cầm tay” là biểu tượng của tình yêu thương đoàn kết. “Cầm tay” là đã đủ nói lên bao cảm xúc trong lòng rồi. Mặt khác, ba dấu chấm lửng đặt ở cuối câu như càng tăng thêm cái tình cảm mặn nồng ấy. Nó giống như nốt lặng trong một khuôn nhạc mà ở đó tình cảm cứ ngân dài sâu lắng.
3. Nghệ thuật: Thể thơ lục bát đậm đà bản sắc dân tộc. Lối hát đối đáp tạo ra giai điệu phong phú cho bài thơ. Nhiều biện pháp tu từ được tác giả vận dụng khéo léo (Hoán dụ, câu hỏi tu từ). Ngôn ngữ trong sáng, nhuần nhị, và có nhiều nét cách tân (đặc biệt là hai đại từ Ta – Mình)
III. KẾT BÀI
– Đánh giá chung.

Bài văn tham khảo

Bài văn 1

“Mỗi công dân đều có một dạng vân tay
Mỗi nhà thơ thứ thiệt đều có một dạng vân chữ
Không trộn lẫn…”
Giống như mỗi người, sẽ sở hữu riêng cho mình một loại vân tay riêng, không giống bất kì ai. Thì mỗi nhà văn, nhà thơ, cũng sẽ sở hữu một phong cách “một dạng vân chữ” riêng biệt. Vì thế, khi đọc những tác phẩm văn chương, ta không thể trộn lẫn giữa Hồ Xuân Hương với Xuân Quỳnh khi cả hai cùng nói rất hay về thơ tình yêu người phụ nữ. Và nổi lên trong phong trào dân tộc dân chủ, cùng sự phát triển của văn học nước nhà, ta nhớ tới Tố Hữu, những khổ thơ mượt mà như áng tóc chữ tình của ông, học được trong ca dạo nhưng lại nổi lên một phong cách rất riêng của Tố Hữu, và ta được biết đến điều đó rõ hơn, thông qua 8 khổ thơ đầu bài thơ Việt Bắc.
Nói đến Tố Hữu là nói ngay đến cây đại thụ của làng văn. Ông mang trong mình một áng thơ ca chạy suốt chiều dài lịch sử, thơ văn viết về lịch sử là thế, nhưng trong đó lại mang đậm dấu ấn của một người con rất Huế, rất Việt Nam, lúc nào cũng tha thiết, lúc nào cũng vấn vương gợi tình.
Mình về mình có nhớ ta
Mười năm lăm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Bài thơ Việt Bắc là một trong những kiệt tác văn chương rất tiêu biểu của tiếng thơ Tố Hữu. Ra đời trong bối cảnh kháng chiến chống Pháp vừa dành thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội tiếp quản. Lấy cảm hứng từ buổi chia tay mang ý nghĩa lịch sử ấy, Tố Hữu đã xúc động viết ra áng thơ này. Việt Bắc như mang nặng hồn thiêng của sông núi, vì thế, bài thơ đến gần với trái tim người đọc, nhờ tính dân tộc đậm đã, được thể hiện đậm nét trong cả hai phương diện nội dung và hình thức.
Ta biết tính dân tộc trong một bài thơ, là một khái niệm quen thuộc, thuộc phạm trù tư tưởng- thẩm mĩ, và là mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa văn học và dân tộc. Tính dân tộc trong một bài thơ là cách thức thể hiện và nội dung có tính bền vững cho các sáng tác của dân tộc ta, được hình thành từ quá trình phát triển của dân tộc từ xưa đến nay. Và tính dân tộc, phải được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và hình thức.
Trong ca dao ta vẫn thường nghe có câu:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng đã có nhưng chưa ai vào
Vậy đấy, tính dân tộc là đây chứ đâu. Vì sao ca dao dân ca từ ngàn đời nay vẫn mới và vẫn luôn khiến ta cảm thấy mến thương như vậy. Đơn giản, bởi ca dao luôn mang đậm chất trữ tình, ngọt ngào, chân chất và gần  gũi, được thể hiện qua thể thơ lục bát uyển chuyển. Bắt nhịp và nối tiếp những giá trị cao quý đó của ca dao dân ca, Tố Hữu đã vận dụng nhuần nhuyễn để làm ra Việt Bắc.
Mình về mình có nhớ ta
Mười năm lăm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn
Tính dân tộc trước hết thể hiện ở thể thơ lục bát quen thuộc, nhờ nó, ý thơ vốn uyển chuyển và đầy chất trữ tình của Tố Hữu càng được bộc lộ một cách rõ nét. Không những thế, Tố Hữu đã vận dụng khéo léo lối đối đáp vốn là hình thức quen thuộc trong ca dao, ngôn ngữ mượt mà, uyển chuyển, đặc tả tình cảm giữa mình – ta ngọt ngào sâu lắng, mà ta vốn thường hay gặp trong những câu ca dao viết về tình yêu lứa đôi.
Đoạn thơ đầu đặc tả nỗi nhớ của người ở lại dành cho người da đi, ngôn từ bình dị nhưng tha thiết và quyện chặt trong lòng kẻ đi người ở. Tình cảm người gắn bó keo sơn tựa như tình cảm đôi lứa, qua đó càng cho ta thấy sự đoàn kết của nhân dân ta trong thời kì kháng chiến. Hóa ra, dù có khó khăn cách trở về không gian, thời gian, trái tim của những người con đất Việt vẫn mãi gắn bó và dành cho nhau. Chỉ cần anh cần, tôi luôn có mặt. Những hình ảnh mang đậm tính dân tộc cũng được tả rõ nét, đó là “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” những cây, những núi, sông, nguồn, là những hình ảnh quen thuộc, vốn đã đi vào tiềm thức của người dân ta muôn đời.
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Lời đầu tiên là lời người ở lại dành cho người ra đi, vì nhớ thương, vì luôn canh cánh trong lòng, nên đoạn thơ này tựa như một lời đồng vọng thân thương mà người ra đi đáp lại người ở. Từ “ai” là một đại từ phiếm chỉ, như ám chỉ hình ảnh tiếng hát da diết và mộc mạc của người dân vùng núi Việt Bắc, người cất bước ra đi nhưng vọng trong hoài niệm, trong nhung nhớ vẫn luôn nghĩ về ân tình Việt Bắc, muối mặn gừng cay, phai chăng “Khi ta ở thì là nơi đất ở/ khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” là vậy? Những hình ảnh mang đậm tính dân tộc như “áo chàm” “cầm tay” mang một vẻ đẹp đơn sơ, giản dị nhưng ấm cúng lắm. Những cái bắt tay mặn mà tình cảm, những tấm áo chàm là hoán dụ cho nhân dân Việt Bắc, cầm tay thôi là đã nói lên tất cả, ngôn ngữ dần như cũng ngưng đọng lại, bồi hồi vì cảm xúc mà không nói thành lời.
Qua đó, càng nổi bật rõ nên nét dân tộc truyền lại trong thơ Tố Hữu, đặc tả vẻ đẹp thủy chung, nghĩa tình, son sắt của người dân quê hương. Việt Bắc là sự kế thừa trọn vẹn những tinh hoa của văn chương muôn đời.

 Bài văn 2

Một trong những điểm nổi bật của phong cách thơ Tố Hữu là chất thơ trữ tình chính trị. Thơ Tố Hữu gắn bó một cách sâu sắc với mọi biến chuyển trong đời sống cách mạng, trong cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng miền nam thống nhất giang sơn và từng bước đi lên cuộc CM DT DC do Đảng cộng sản lãnh đạo… Nhưng thơ Tố Hữu vô cùng tha thiết đằm thắm đem đến cho người đọc xúc cảm tinh tế và lớn lao. Tố Hữu đã trữ tình hoá mọi vấn đề chính trị – xã hội để làm nên chất “trữ tình chính trị”.
Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
 
Việt Bắc là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp và cũng là đỉnh cao của thơ Tố Hữu là bài thơ tiêu biểu cho phong cách này. Bằng cấu từ đầy màu sắc trữ tình dân gian, 1 thứ ngôn ngữ ngọt ngào tha thiết, những hình ảnh rất giàu chất thơ Tố Hữu đã từ cuộc chia tay giữa những người kháng chiến đối với đồng bào Việt Bắc mà tái hiện lại một Việt Bắc trong kháng chiến đầy gian khổ hy sinh nhưng thấm đẫm nghĩa tình quần chúng giữa cách mạng với nhân dân, lãnh tụ với dân tộc, miền ngược với miền xuôi, quá khứ, hiện tại, tương lai như hoà quyện vào nhau. Điều đó dã được thể hiện ngay trong 8 câu thơ mở đầu bài thơ.
Vì là 1 phong cách trữ tình chính trị nên thơ Tố Hữu luôn gắn liền với những vấn đề thời sự, luôn kết tinh trong tác phẩm hơi thở của cuộc sống. Nhờ thế Việt Bắc đã ra đời trong một hoàn cảnh khá đặc biệt. Đó là vào tháng 10/ 1954, sau khi kháng chiến vĩ đại của dtộc ta kết thúc bằng một chiến thắng rạng rỡ khắp 5 châu 4 biển, làm chấn động địa cầu, đất nước đã hoà bình, Bác Hồ và các cơ quan trung ương Đảng, cùng với phần lớn các tổ chức kháng chiến, những người kháng chiến đã hồ hởi trở về tiếp quản thủ đô. 1 cuộc chia tay lớn mang tính chất lịch sử đã diễn ra trên khắp vùng quê nẻo đường. Nhân sự kiện ấy Tố Hữu muốn làm một cuộc tổng kết về quá trình chiến thắng, VB- thủ đô của kháng chiến. Nhưng Tố Hữu đã không thể hiện nó như bản tổng kết quân sự hay những trang sử về kháng chiến hoặc một báo cáo chính trị thông thường. Tố Hữu đã trữ tình hoá cuộc chia tay lớn này bằng việc thể hiện nó như một cuộc chia tay của đôi lứa, của “mình với ta”, “ta với mình” trong ca dao dân ca của mọi miền đất nước đặc biệt trong ca dao dân ca của đồng bằng Bắc Bộ.
Hoàn cảnh đã tạo nên cấu trúc trữ tình tác phẩm, cái âm hưởng dìu dặt, lưu luyến, bịn rịn bao trùm bài thơ đó là cái âm hưởng của những câu thơ lục bát đều đặn nhịp nhàng và những thanh bằng thanh trắc đắp đổi cho nhau như trong câu thơ lục bát truyền thống. Cấu trúc trữ tình tạo nên cái tứ trữ tình, uốn vào nó thiên nhiên rất giàu giá trị biểu cảm, trực tiếp bày tỏ cảm xúc với rất nhiều chữ “nhớ” lan toả khắp bài thơ rồi những từ “tha thiết”, “bâng khuâng” với hình ảnh người yêu. Có thể nói hoàn cảnh ra đời chính là sự khơi gợi cảm hứng, từ cảm hứng khơi gợi giọng điệu, từ giọng điệu như một thanh nam châm hút vào tác phẩm những từ ngữ cùng một trường biểu cảm.
Việt Bắc là một những hoài niệm lớn của những ngày kháng chiến, những hoài niệm được đặt trong không gian thấm đẫm chất trữ tình. Cho nên ngay từ những dòng thơ mở đầu, Việt Bắc mở ra khung cảnh chia tay giữa núi rừng, trong đó 4 dòng thơ đầu là tiếng nói Việt Bắc với người miền xuôi, và cũng 4 câu thơ như vậy viết về cảm xúc của người miền xuôi như để đáp lại người Việt Bắc. Kết cấu đối đáp đã tạo nên những suy nghĩ về tấm lòng người ở, người đi thuỷ chung son sắt.
Việt Bắc là tiếng nói trữ tình giữa khung cảnh chia tay của những người kháng chiến với đồng bào vùng cao, nhưng lại được mở đầu bằng tiếng nói của người miền ngược, Tố Hữu như muốn nói cái tình của đồng bào Việt Bắc với Bác Hồ, Trung ương Đảng, những người kháng chiến thật sâu sắc biết bao nhiêu, thuỷ chung đến chừng nào. Tiếng nói của người tiễn đưa đã thấm đấm nhớ thương, ngay từ những từ ngữ xưng hô: “Mình về mình có nhớ ta”. Chữ “mình” vốn để chỉ những người nói, nhưng VB lại dành để chỉ những người về xuôi, gọi người đối thoại với mình là mình, hay đúng hơn là phần thương nhớ của chính mình, hoặc sự phân thân của chính mình. Cho nên mình và ta tuy hai mà một, cứ quấn quýt bên nhau, thậm chí nhớ thương dành cho người về xuôi nhiều hơn, cho nên 4 dòng thơ mà “mình” trở đi trở lại bốn lần: “mình về mình có nhớ ta”; “mình về mình có nhớ không”. Người viết đã biến cuộc chia tay lớn thành cuộc chia tay “mình” và “ta” giống như đôi lứa yêu nhau, đầy bịn rịn lưu luyến.
Lời chia tay lại có kết cấu của hai câu hỏi. Một câu hỏi bao trùm cả thời gian: có nhớ “muời lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Một câu hỏi bao trùm cả không gian : có nhớ “Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”. Đó là những câu hỏi rất giàu giá trị tu từ, nó như xoáy sâu vào kí ức của người miền xuôi, nó như dồn nén bao nhiêu kỉ niệm của muời lăm năm sâu nặng nghĩa tình với những buồn vui, những gian khổ mà gắn bó từ những ngày ngọn lửa hồng của cách mạng được chính chủ tịch Hồ Chí Minh khơi lên từ Pắc Bó, cho tới những ngày độc lập rồi kháng chiến thành công. Đó cũng là 15 năm với bao nhiêu thiết tha mặn nồng. Trong khi đó câu hỏi:
“Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”
lại bao trùm cả không gian, không phải gợi nhớ kỉ niệm mà làm cho khoảng cách không gian giữa miền xuôi và Việt Bắc như xích lại nhau trong một chữ nhớ “nhìn cây nhớ núi”; “nhìn sông nhớ nguồn”. “Cây” và “sông” là biểu tượng của không gian miền xuôi vời vợi, với vùng cao trong biểu tượng “núi” “nguồn”. Chữ “nhớ” đặt giữa “cây” và “ núi”; “sông” và “ nguồn” như có sự kết nối không gian cách trở vời vợi ấy trong tâm tưởng, như xoá nhoà sự chia li. Cũng giống như ở câu thơ mở đầu “mình” và “ta” trong cuộc chia li này không hề có sự xa cách trong tình cảm, bởi một chữ “nhớ” đã gắn liền họ với nhau.
Ngôn ngữ của đoạn thơ không chỉ đằm thắm trong những từ xưng hô đầy sáng tạo mà còn ở những từ ngữ khơi gợi bao nhiêu nỗi nhớ. 4 chữ “mình” gắn liền cới 4 chữ “nhớ” trong một đoạn thơ. Nỗi nhớ ấy chẳng phải nồng nàn tha thiết lắm sao! Nỗi nhớ như một dòng chảy xuyên suốt 4 câu thơ, đồng thời tác giả trực tiếp sử dụng những từ ngữ biểu hiện trạng thái cảm xúc như “thiết tha”, “mặn nồng”. Thậm chí có những từ tưởng như chỉ là một hư từ, rỗng về nghĩa như chữ “ấy” nhưng nó thật có giá trị, nó làm cho khái niệm thời gian 15 năm trở thành 15 năm kỉ niệm, gợi nhớ tới câu thơ của Lưu Trọng Lư:
Cái thủa ban đầu lưu luyến ấy
Nghìn năm hồ dễ ai quên

Cho nên “15 năm ấy” cũng là 15 năm sâu nặng tình yêu của đồng bào Việt Bắc.
Không chỉ có cách nói tràn đầy cảm hứng lãng mạn như trong những câu thơ viết về tình yêu đôi lứa mà những hình ảnh, cách phô diễn còn có sự cộng hưởng của ca dao, như trong câu: “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Đó là một câu thơ được viết theo thể phú, thể tỉ, vốn rất quen thuộc trong ca dao :
“Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói nghĩa tình bấy nhiêu”
“Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu”.

Tố Hữu sử dụng thể phú để viết “nhìn A nhớ B, nhìn C nhớ D” như trong một công thức ca dao.
Cái trữ tình không chỉ dào dạt ở lời thơ, cấu trúc câu hỏi hay nhưng từ ngữ giàu sức biểu cảm mà còn là âm hưởng của câu thơ nói chung, dìu dặt, da diết như âm hưởng của tiếng hát ru trong dân ca vùng đồng bằng bắc bộ, dễ thấm vào tâm hồn người đọc lúc bấy giờ.
Nằm trong kết cấu của mạch đối đáp, sau tiếng hát đưa tiễn của người Việt Bắc đầy nhớ thương, mặn nồng là lời đáp của người về xuôi:
“ Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Nếu như người Việc Bắc gửi theo bước chân của người miền xuôi với bao nhiêu nỗi nhớ thì trong lời đối đáp của người miền xuôi cũng đầy ắp những bâng khuâng tha thiết. Không sử dụng đại từ xưng hô “mình”, “ta” mà người xưng hô sử dụng đại từ “ai” để khẳng định trước hết là sự gắn bó với người ở lại. Ai có thể là đại từ để hỏi nhưng ở đây đó chính là đại từ phiếm chỉ, rất gần cách nói của ca dao: “Nhớ ai bồi hổi bồi hồi” hay như Tú Xương một nhà thơ trào phúng bậc nhất của Văn  học Việt Nam đầu thế kỉ XX cũng rất trữ tình, tha thiết trong chữ “ai” như vậy: “Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”, “Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô”. Đó là những chữ “ai” đầy yêu thương. Dẫu không phải không biết áo bông của ai, khăn đầu của ai nhưng người nói vẫn sử dụng chữ “ai” mà không gọi tên cụ thể chính là tạo nên một khoảng trống của không gian để yêu thương chứa đầy trong nó. Tố Hữu sử dụng và khai thác triệt để sự biến hoá hết sức linh diệu trong giá trị biểu cảm của từ “ai”. Một chữ “ai” của người về xuôi đủ làm xao xuyến lòng người đưa tiễn, đủ cho thấy người về xuôi yêu thương Việt Bắc đến chừng nào và hiểu nỗi niềm tha thiết của người Việt Bắc đối với cách mạng, đối với người miền xuôi. Một chữ “ai” làm xao động cả không gian đưa tiễn.
Còn người về xuôi trước những tiếng tha thiết của người đưa tiễn đã xúc động ra sao? Tố Hữu đã diễn tả một cách hết sức chính xác tâm trạng của người về xuôi qua những chữ “bâng khuâng”, “bồn chồn”. “Bâng khuâng” là tâm trạng chất chứa những nhớ thương bao trùm cả không gian với bao nhiêu kỉ niệm, không dừng lại một kỉ niệm nào. Còn “bồn chồn” cũng là từ chỉ tâm trạng nhớ thương, những đó là tâm trạng không thể kìm nén bên trong mà biểu hiện qua bên ngoài như nét mặt bồn chồn mong đợi. Ở đây cái tâm trạng ấy lại hiện ra trong bước đi của người về xuôi thành “bồn chồn bước đi”. Nghĩa là những người kháng chiến về tiếp quản thủ đô cũng như bao nhiêu thành phố, thị xã khác thì việc về đã đành phải về nhưng lòng lại không muốn chia xa. Cho nên mỗi bước đi đều bồn chồn không muốn rời chân. Tâm trạng bâng khuâng bồn chồn ấy còn được thể hiện một cách hết sức tinh tế qua nhịp điệu 2 câu thơ tiếp theo:
Áo chàm /đưa buổi/ phân li
Cầm tay nhau/ biết nói gì/ hôm nay

Câu thơ lục bát vốn có nhịp chẵn như nhịp thơ đều đặn của ca dao Việt Nam, nhưng với 2 câu thơ này tác giả đã tạo nên những đột biến trong nhịp điệu như một đảo phách trong âm nhạc, đột ngột chuyển sang những nhịp lẻ, như ta đã phân tích. Đó chính là nhịp bồn chồn của bước đi. Đoàn Thị Điểm trong “Chinh phụ ngâm khúc” đã tả cái bồn chồn ấy bằng một câu thơ rất giàu hình ảnh:
Bước đi/ một bước/ dây dây/ lại dừng
Tố Hữu không tả mà dùng nhạc tính của câu thơ với nhịp lẻ liên tiếp nhau để diễn tả trạng thái bồn chồn ấy. Ta như thấy người đi và người ở dùng dằng bên nhau không nỡđứt, như thế đôi bàn tay của người ở kẻ đi bịn rịn, không muốn rời xa.
Về phương diện nghệ thuật còn phải thấy t/giả đã sử dụng những hình ảnh hoán dụ ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. Dùng “áo chàm” để nói người VB, cũng để nói cả Việt Bắc đang tiễn đưa người kháng chiến về xuôi. Ta chợt nhớ câu thơ của Lưu Quang Vũ viết về bàn tay của những người yêu nhau:
Khi chia tay ta chỉ nắm tay mình
Điều chưa nói bàn tay đã nói
Mình đi rồi hơi ấm còn để lại
Còn bồi hồi trong những ngón tay ta

Việt Bắc chỉ với tám dòng thơ mở đầu, người đọc cảm nhận một cách khá đầy đủ âm hưởng chung của cả bài thơ, âm hưởng khúc hát đối đáp, khúc hát ru nhẹ nhàng sâu lắng. Cùng với ngôn ngữ đậm màu sắc trữ tình của ca dao chúng ta có thể cảm nhận một cách sâu sắc đặc trưng trữ tình chính trị của thơ Tố Hữu.
Xem thêm các bài viết về bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu tại đây.
 
 

360dogame

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Read also x