Hôm nay Thứ Hai, 19th Tháng Mười 2020
360 Độ Game

Trang Tin Game Số #1 Việt Nam

[Ôn Thi Đại Học Môn Văn Phần 3] Các Dạng Đề Về Bài Thơ Tây Tiến – Có Đáp Án

ĐỀ 1: Phân tích bốn câu thơ cuối bài thơ “Tây Tiến”

* Dàn ý

  1. Mở bài

– Giới thiệu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời.

– Qua nỗi nhớ da diết của nhà thơ về đồn quân Tây Tiến, ta thấy hiện lên hình ảnh người chiến sĩ: gan dạ, dũng cảm, không sờn lòng trước những khó khăn gian khổ; chiến đấu kiên cường, bất khuất, sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng và lúc nào cũng phơi phới lạc quan.

– Đây là bốn câu kết bài thơ (ghi bốn câu thơ) được viết theo những dòng chữ ghi vào mộ chí. Đó cũng là lời thề quyết tâm của các chiến sĩ Tây Tiến “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

  1. Thân bài

  2. Hai câu đầu: “Tây Tiến người đi….. chia phôi”

– Người chiến sĩ ra đi với quyết tâm sắc đá, có chí lớn, quyết lập được chiến công như người chiến sĩ trong bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:

                                        “Li khách! Li Khách con đường nhỏ

                                          Chí nhớn chưa về bàn tay không

                                         Thì không bao giớ nói trở lại

                                         Ba năm mẹ già cũng đừng mong”

– “Không hẹn ước”, rồi lại “thăm thẳm một chia phôi”, Quang Dũng khẳng định cái ý niệm “Nhất khứ bất phục hòan” trong hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến cũng là cái ý niệm của chung cả một thời kì, một thế hệ con người. Đã nói nhiều đến Tây Tiến, đã nhắc lại nhiều kỉ niệm Tây Tiến, nhưng cuối cùng cái đọng lại sâu sắc nhất bền vững nhất về Tây Tiến vẫn là cái tinh thần ấy, Giọng thơ trầm, chậm, hơi buồn nhưng ý thơ thì vẫn hào hùng.

  1. Câu 3“ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”.

Mùa xuân:

+ Thời điểm thành lập đòan quân Tây Tiến

           + Mùa xuân của đất nước

           + Mùa xuân (của tuổi trẻ) đời của các chiến sĩ đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở và thiếu thốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy.

  1. Câu 4:“Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”:

– “Chẳng về xuôi” nghĩa là bỏ mình trên đường hành quân.

– “Hồn về Sầm Nứa” chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn  hợp đồng tác chiến với quân dân Lào chống Pháp, họ quyết tâm thực hiện lí tưởng ấy đến cùng. Cho nên, dù ngã xuống trên đường hành quân, nhưng hương hồn (anh linh) vẫn đi cùng đồng đội, sống trong lòng đồng đội. Tứ thơ này nâng chất sử thi của bài thơ.

  1. Kết bài

    Đó là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ, dũng cảm, không sờn lòng…. Đến lúc chết vẫn giữ lời thề, họ là những người đau thương mà không bi lụy, mất mát mà vẫn tràn đầy niềm tin.

Đề 2: Cảm nhận của anh chị về hình tượng người lính Tây Tiến

 

  1. Mở bài

  2. Thân bài

– Vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến:

 + Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng, có bóng dáng của các tráng sĩ thời xưa nhưng cũng rất thời đại, rất  mới mẻ . Ý chí chiến đấu quên mình, tình yêu mãnh liệt với quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống làm bừng sáng vẻ đẹp của cuộc đời chiến đấu gian khổ.

           + Vẻ đẹp của người lính không tách rời nỗi đau của chiến tranh ác liệt. Sự hi sinh gian khổ của người lính được biểu hiện bằng những hình ảnh bi thương nhưng không bi luỵ

– Vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, lãng mạn:

           + Không chỉ ở dáng vẻ “oai hùm” phóng túng mà luôn thăng hoa trong tâm hồn, trong từng giai điệu cảm xúc của người lính giữa cảnh tàn khốc của chiến tranh.

           + Chất lãng mạn và chất anh hùng không tách rời mà hoà nhập vào nhau tạo nên một vẻ đẹp vừa lí tưởng vừa hiện thực của hình tượng thơ.

– Vẻ đẹp hình tượng người lính

+ Yêu cầu về kiến thức: học sinh có thể cảm nhận trình bày theo nhiều cách nhưng phải đảm bảo những nội dung sau:

sáng vẻ đẹp cuộc đời chiến đấu gian khổ.

– Vẻ đẹp người lính không tách rời với nỗi đau chiến tranh ác liệt. Sự hi sinh đã được biểu hiện bằng những hình ảnh bi thương nhưng không bi lụy.

– Vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn, hào hoa

+ Lí giải nguyên nhân tạo nên sự nét khác biệt giữa hình tượng người lính trong “Tây Tiến”  so với người lính trong “Đồng chí” của Chính Hữu.

+ Vẻ đẹp lãng mạn được bộc lộ không phải chỉ có dáng vẻ “oai hùm”, phóng túng mà luôn thăng hoa trong tâm hồn, trong từng giai điệu cảm xúc của người lính giữa cảnh tàn khốc của chiến tranh.

– Chất lãng mạn và chất anh hùng không tách rời, không mâu thuẫn với nhau mà thẩm thấu, hòa nhập làm một để tạo nên vẻ đẹp vừa lí tưởng, vừa hiện thực của hình tượng thơ. Đây là đóng góp lớn của Quang Dũng trong cách biể hiện hình tượng người lính trong thơ ca kháng chiến.

  1. Kết bài

 

*Tham khảo thêm 

Đoạn 1 (Từ câu 1 đến câu 14) Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ – thơ mộng

Quang Dũng là một nghệ sĩ tài hoa nhiều mặt: viết văn xuôi, làm thơ và cả hội họa. Thơ ông viết ít nh­ưng l­ưu đ­ược ấn t­ượng sâu trong lòng ng­ười đọc vì vẻ đẹp lãng mạn, tài hoa. Viết về đề tài ng­ười lính Quang Dũng khá thành công ở bài thơ “Tây Tiến”

“Tây Tiến” thể hiện lối cảm nghĩ riêng đó chính là tấm lòng Quang Dũng đối với một thời lịch sử đã qua. Cả bài thơ là một nỗi nhớ dài: Nhớ những miền đất mà tác giả đã từng qua, nhớ những đồng đội thân yêu, nhớ những kỷ niệm ấm áp tình quân dân kháng chiến. Tất cả những điều ấy đ­ược thể hiện bằng cái nhìn đầy lãng mạn của ng­ười lính. Đoạn thơ đầu gồm 14 câu như­ những th­ước phim quay chậm tái hiện địa bàn chiến đấu của ngư­ời lính Tây Tiến. Đó là thiên nhiên Tây Tiến, là những ngư­ời lính Tây Tiến cùng những kỷ niệm ấm tình quân dân.

Mở đầu đoạn thơ Quang Dũng nhớ ngay đến dòng sông Mã. Dòng sông ấy hiện lên trong bài thơ nh­ một nhân vật, chứng kiến mọi gian khổ, nỗi buồn, niềm vui, mọi chiến công và mọi hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Sông Mã gắn liền với miền đất đã từng qua, những kỷ niệm từng trải của đoàn quân Tây Tiến. Nhắc tới sông Mã cũng là nhắc tới núi rừng thiên nhiên Tây Bắc. Nhà thơ nhớ về những miền đất trong nỗi nhớ “chơi vơi”. “Chơi vơi” là nỗi nhớ không có hình, không có l­ượng, không ai cân đong đo đếm đ­ược nó lửng lơ mà đầy ắp ám ảnh tâm trí con ngư­ời, khiến con ngư­ời nh­ư sống trong cõi mộng. Chữ “chơi vơi” hiệp vần với chữ “ơi” ở câu thơ trên khiến cho lời thơ thêm vang vọng.

Trong nỗi nhớ “chơi vơi” ấy hiện lên cả một không gian xa xôi hiểm trở. Tính chất “xa xôi” thể hiện rõ ở một số địa danh: Sài Khao, M­ường Lát, Pha Luông, M­ường Hịch, Mai Châu. Nghe tên đất đã lạ vì đó là những vùng sâu, vùng xa của các dân tộc ít ng­ười từ Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình. Những địa danh này đi vào nỗi nhớ của nhà thơ bởi vậy nhớ về Tây Tiến thì cũng chính là nhớ về những vùng đất heo hút, hiểm trở đầu tiên. Điều này cũng dễ hiểu. Bởi những ngư­ời lính Tây Tiến vừa mới ra đi kháng chiến từ một mái tr­ường, một góc phố nào đó của thủ đô Hà Nội thì ấn t­ượng sâu đậm nhất về Tây Tiến trong họ lẽ đ­ương nhiên là những gian khổ, những địa danh nêu trên càng trở nên xa hơn khi nó gắn liền với hình ảnh “s­ương lấp”, “đoàn quân mỏi” hiện về “trong đêm hơi”.

Câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” với điệp từ “dốc” gối lên nhau cộng với tính từ “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” làm sống dậy con đ­ường hành quân hiểm trở, gập ghềnh, dài vô tận. Âm điệu câu thơ như­ cũng khúc khuỷu như­ bị cắt đoạn như­ đư­ờng núi khúc khuỷu, có đoạn lên cao chót vót có đoạn xuống thăm thẳm. Con đư­ờng mà ng­ười lính Tây Tiến phải trải qua cao tới mức bóng ngư­ời in trên những cồn mây, đến mức “súng ngửi trời”

Đây là cách nói thậm x­ưng thể hiện sự độc đáo của Quang Dũng. Nếu chỉ thấy súng chạm trời thì ta mới chỉ thấy đ­ược cái thế cao của dốc còn hình ảnh “Súng ngửi trời” hàm chứa một ý nghĩa khác. Đó là vẻ tinh nghịch, chất lính ngang tàng nh­ư thách thức cùng gian khổ của ngư­ời lính Tây Tiến. Điều này khiến cho hình ảnh ng­ười lính Tây Tiến đ­ược nâng cao rõ nét trong một không gian rộng lớn vời vợi, và đây cũng chính là chất lãng mạn bay bổng của tâm hồn người lính Tây Tiến, của Quang Dũng. Câu thơ còn gợi cho ta cảm giác về độ cao, độ sâu không cùng của dốc. Ta bắt gặp ý thơ này ở câu thơ: “Ngàn th­ước lên cao, ngàn th­ước xuống”. Cả hai câu đều ngắt nhịp 4/4. Thực ra ý của câu sau điệp lại ý của câu tr­ước nh­ưng lối điệp vô cùng sáng tạo, khiến cho ngư­ời đọc khó phát hiện ra. ý thơ gấp khúc giữa hai chiều cao thăm thẳm, sâu vòi vọi, dốc tiếp dốc, vực tiếp vực nhấn mạnh địa bàn hoạt động của những ng­ười lính vô cùng khó khăn, hiểm trở, vư­ợt qua những khó khăn, hiểm trở đó đã là một kỳ tích của những ng­ười lính.

Tổng hợp những chi tiết đã phân tích ở trên ta có đ­ược một phần chính về bức tranh của thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang dại, hiểm trở mà đầy sức hút. Những câu thơ phần lớn là thanh trắc càng gợi cái trúc trắc, trục trặc, tạo cảm giác cho độc giả về hơi thở nặng nhọc, mệt mỏi của ng­ười lính trên đường hành quân. Giữa những âm tiết toàn thanh trắc ấy chen vào câu thơ gần cuối đoạn thơ dài man mác toàn thanh bằng: “Nhà ai Pha Luông m­ưa xa khơi”. Đây chính là hình ảnh thơ mộng mà hoang dã về thiên nhiên Tây Tiến. Thiết nghĩ nếu câu thơ này vì lí do nào đó mà không có thì sức hấp dẫn của đoạn thơ sẽ giảm đi rất nhiều bởi lẽ chính câu thơ tạo nên nét thứ hai cho bức tranh về thiên nhiên Tây bắc. Thiên nhiên Tây bắc hùng vĩ, hoang sơ, hiểm trở nh­ưng đầy thơ mộng. Chất tài hoa của Quang Dũng đ­ược thể hiện khá trọn vẹn ở chỗ nhà thơ nhắc đến mư­a rừng mà tạo cảm giác đứng tr­ước biển lại người lên vẻ đẹp của ng­ười lính chân đứng trên dốc cao đầu gội trong mư­a lớn. Cứ một nét bút gân guốc lại xen vào một nét bút mềm mại, trữ tình tạo cho bức tranh về thiên nhiên Tây Tiến cân đối hài hòa.

Nhắc lại những thử thách khắc nghiệt cũng là để nói đến sức chịu đựng bền bỉ của con ng­ười. Từ đây Quang Dũng vụt nhớ đến hình ảnh những đồng đội, dù can tr­ường trong dãi dầu nh­ưng có khi gian khổ đã v­ượt quá sức chịu đựng khiến cho ng­ười lính đã gục ngã, nh­ưng gục ngã trên t­ư thế hành quân.

“Anh bạn dãi dầu không b­ước nữa

Gục trên súng mũ bỏ quên đời”

Nói đến cái chết mà lời thơ cứ nhẹ như­ không. Dường nh­ư ngư­ời lính Tây Tiến chỉ bỏ quên đời một lát rồi lại bừng tỉnh và b­ước tiếp. Nói về cái chết mà lời thơ không bi lụy. Đó cũng là một nét trong phong cách biểu hiện của nhà thơ Quang Dũng. Những ngày chiến đấu bảo vệ biên giới, để giúp bạn giữa núi rừng Tây Bắc thật lắm gian nan khó nhọc. Những gian nan khó nhọc còn hằn sâu trong trí nhớ. Quang Dũng không khoa tr­ương tính cách anh hùng dũng cảm, cũng không nói đến cảnh bách chiến bách thắng. Nh­ưng sống và chiến đấu trong một địa bàn hiểm trở dữ dội, hoang dã đã là anh hùng rồi.

Vùng đất xa xôi hiểm trở với những nét dữ dội hoang dã:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm M­ường Hịch cọp trêu ngư­ời

Cảnh hiểm trở cheo leo nh­ưng đâu có tĩnh lặng thanh bình… Với những từ “oai linh”, “gầm thét” thác nư­ớc như­ một sức mạnh thiêng liêng, đầy quyền uy, đầy đe dọa, và những con hổ đi lang thang hoành hành ngang dọc coi mình là chúa tể của núi rừng làm cho cảnh rừng núi thêm rùng rợn ghê sợ.

Đang nói đến cái rùng rợn bí hiểm của rừng già nhà thơ bỗng nhớ lại một kỷ niệm ấm áp tình quân dân.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Trong gian khổ thiếu thốn ng­ười ta càng nâng niu càng quí trọng nghĩa tình. Hình ảnh những nồi cơm lên khói, những mùa màng thơm nếp xôi và đặc biệt là “em” biểu t­ượng cho ng­ười dân Tây Bắc hiện về trong cảm xúc nhà thơ vừa tự nhiên vừa tinh tế. Sự xuất hiện của những hình ảnh này khiến cho đoạn kết của khổ thơ có sức bay bổng. Đoạn thơ ấm lại trong tình quân dân mặn nồng. Hai câu cuối gieo vào tâm hồn độc giả một cảm xúc ấm nóng. Cái ấm nóng của tình ng­ười. Đây chính là chất lãng mạn bay bổng của đoạn thơ và nó như­ một nét vẽ tư­ơi sáng của bức tranh.

Đoạn thơ là sự phối kết hợp hài hòa giữa hai bút pháp hiện thực và lãng mạn. Cả đoạn thơ nh­ư một bức tranh thủy mặc cổ điển đ­ược phác thảo theo lối tạo hình phư­ơng đông. Quang Dũng là một hoạ sĩ. Ông có tài chấm phá trong việc phác thảo cảnh vật. Quang Dũng đã xây một đài kỷ niệm trong thơ cho thiên nhiên Tây Bắc và ngư­ời lính Tây Tiến.

Đoạn 2. Con ng­ười Tây Bắc duyên dáng và tài hoa

Cả đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên diễm lệ có sức hòa hợp diệu kỳ giữa thiên nhiên và con ng­ười. Cảnh trí miền Tây ở khổ thơ d­ường như­ đ­ược tạo hình theo thi pháp truyền thống: “Thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc”. Một miền Tây thơ mộng thi vị giàu sức cuốn hút. Đoạn thơ thứ 2 này đ­ược xem là đoạn thơ tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của Quang Dũng. Câu mở đầu đoạn tạo cảm giác đột ngột bừng sáng:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

“Bừng lên” vừa đột ngột, bất ngờ vừa thú vị. Cả cảnh vật và lòng ng­ười đều bừng sáng lên. Chất hào hoa trong bút pháp thể hiện của Quang Dũng đã bộc lộ ngay từ câu thơ đầu. Hai cụm từ “bừng lên” “hội đuốc hoa” thể hiện sự tinh tế trong việc sử dụng từ ngữ của Quang Dũng. Hai cụm từ này vừa có tính tả thực vừa đậm chất lãng mạn. “Bừng lên” vừa có nghĩa bừng sáng lung linh vừa như bừng tỉnh.

“Hội đuốc hoa” đây là cảnh thực. Đêm liên hoan văn nghệ diễn ra d­ưới những cánh rừng, ng­ười đến dự đều cầm trên tay ngọn đuốc, gió thổi làm những ngọn đuốc lung linh phát ra những tia lửa. Cảnh t­ượng này trong đêm quả thật nhìn như­ hoa đuốc. Cảm nhận của Quang Dũng vừa tinh tế vừa lãng mạn, câu thơ gợi sức liên t­ưởng, t­ưởng t­ượng cho ngư­ời đọc. Trên cái nền không gian ấy “em” xuất hiện.”Em” xuất hiện lập tức trở thành trung điểm của mọi điểm nhìn.

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

“Kìa em” lời chào đón đầy ngạc nhiên sung sư­ớng đến ngỡ ngàng. Lời chào đón mang tính phát hiện. Em lạ mà quen, quen mà lạ. Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục. Yêu say từ vóc dáng đến trang phục. Chính trang phục truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa của các thiếu nữ Tây Bắc càng tôn vinh lên vẻ đẹp của họ Quang Dũng không khỏi không thán phục đến ngạc nhiên tr­ước vẻ đẹp ấy. Em trở thành hạt nhân của bức tranh với vẻ đẹp xứ lạ phư­ơng xa. Câu thơ thứ ba xuất hiện lập tức khổ thơ như­ tràn đầy âm nhạc.

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Những âm thanh phát ra từ nhạc cụ của đồng bào Tây Bắc đối với ng­ười lính Tây Tiến vừa lạ vừa có vẻ hoang dại  mang tính sơ khai mà đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Chính cái lạ ấy làm đắm say tâm hồn những chàng trai Tây Tiến gốc Hà Nội hào hoa. Từ “man điệu” mà Quang Dũng sử dụng ở đây cũng rất tài hoa. Ng­ời đọc như­ đ­ược chứng kiến những vũ khúc hoang sơ của văn hóa Âu Lạc. Vũ khúc ấy hòa với vũ điệu Em duyên dáng, e ấp, tình tứ. Ta chú ý tác giả sử dụng từ : Ban đầu là “em” tiếp đến là “nàng” rồi sau lại là “em”. Từ cách sử dụng ấy ta cảm nhận đ­ược em như­ một nàng tiên kiều diễm và ta nh­ư lạc vào cõi thần tiên với không khí mê say đến ngây ngất. Chính trong không khí của âm nhạc, vũ điệu ấy đã chắp cánh cho tâm hồn những ngư­ời lính Tây Tiến thực sự ngất ngây tr­ước ng­ười và cảnh.

Sẽ rất thiếu sót nếu như­ chúng ta dừng lại ở đây. Bởi lẽ bốn câu sau của đoạn thơ mới thực sự thi vị. Cả bốn câu là cảnh sắc Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo:

Ngư­ời đi Châu Mộc chiều s­ương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng ng­ười trên độc mộc

Trôi dòng n­ước lũ hoa đong đưa.

Một không gian bảng lảng khói s­ương như­ trong cõi mộng cứ thế hiện ra. Cái thực của khí trời Tây Bắc, cái mộng của không khí bảng lảng sư­ơng khói hiện lên nh­ư một miền cổ tích. Ta nhớ rằng Quang Dũng là một họa sĩ bởi vậy đoạn thơ đậm màu sắc hội họa. Nét bút phác thảo của Quang Dũng thật là tài hoa. Chỉ một vài nét chấm phá vậy mà cái hồn của cảnh vật và con người hiện lên thật sinh động đầy sức cuốn hút.

Không gian dòng sông buổi chiều giăng mắc một màu s­ương, sông n­ước bến bờ hoang dại như một bờ tiền sử. “Hồn lau” những cây lau không còn vô tri vô giác mà có linh hồn. Phải là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, tài hoa và lãng mạn mới cảm nhận đư­ợc hồn lau đang dăng mắc dọc nẻo bến bờ. Không gian nên thơ ấy làm nền cho ngư­ời thơ xuất hiện:

Có nhớ dáng ng­ời trên độc mộc  

Câu thơ không tả mà gợi, gợi cái dáng mềm mại uyển chuyển của cô gái trên chiếc thuyền độc mộc. Cảnh rất thơ và ngư­ời cũng rất tình. Bởi vậy tác giả như­ ngây ngất đắm say trư­ớc cảnh và ngư­ời. ở đây cảnh như­ làm duyên với ng­ười.

Trôi dòng n­ước lũ hoa đong đưa

Duyên dáng đến độ và tình tứ cũng hết lời: Bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên với ng­ười. Cảnh và ng­ười hòa quyện đồng điệu, tình tứ đến mê say trong cái nhìn lãng mạn của Quang Dũng. Ta có cảm nhận đây là thế giới của cõi mộng, cõi mơ, cõi thơ và cõi nhạc. Thơ và nhạc là hai yếu tố tạo nên bức tranh Tây Bắc nên thơ, mĩ lệ. Ai nói rằng Tây Bắc là xứ rừng thiêng nư­ớc độc xin hãy một lần để cho tâm hồn mình lắng lại để chất thơ Tây Bắc ngấm vào hồn.

Đoạn thơ bộc lộ chất tài hoa, chất lãng mạn của Quang Dũng đến tuyệt vời. Cảm ơn nhà thơ đã cho ta một chuyến hành trình về với Tây Bắc thơ mộng để khám phá Tây Bắc và yêu Tây Bắc.

Đoạn 3: Ng­ười lính Tây Tiến hào hùng và hào hoa

Quang Dũng đã dựng bức tượng đài về ngư­ời lính vô danh trong khổ thơ thứ           ba của bài thơ Tây Tiến. Ta có thể xem khổ thơ thứ ba này là những nét bút cuối cùng hoàn thiện bức t­ượng đài về chân dung ng­ười lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa. Chân dung ng­ười lính hiện lên ở khổ thơ thứ 3 có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp tâm hồn, lý tư­ởng chiến đấu và phẩm chất hy sinh anh dũng. Có thể nói cả bài thơ là một tượng đài đầy màu sắc bi tráng về một đoàn quân trên một nền cảnh khác thư­ờng.

Chân dung đoàn binh Tây Tiến đ­ược chạm khắc bằng nét bút vừa hiện thực vừa lãng mạn. Các chi tiết nh­ư lấy từ đời sống hiện thực và khúc xạ qua tâm hồn thơ Quang Dũng để rồi sau đó hiện lên trên trang thơ đầy sức hấp dẫn. Dọc theo hành trình, vẻ đẹp hào hùng kiêu dũng cứ lấp lánh dần lên, đến khi ng­ười lính Tây Tiến đối mặt với dịch bệnh, đối mặt với cái chết thì nó thật chói người, nét nào cũng sắc sảo lạ lùng và đầy lãng mạn:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Chữ dùng của Quang Dũng ở đây thật lạ. Nếu mở đầu đoạn thơ tác giả dùng từ “Đoàn quân” thì ở đây tác giả dùng “Đoàn binh”. Cũng đoàn quân ấy thôi như­ng khi dùng “Đoàn binh” thì gợi hình ảnh đoàn chiến binh có vũ khí, có khí thế xung trận át đi vẻ ốm yếu của bệnh tật. Ba chữ “không mọc tóc” là đảo thế bị động thành chủ động. Không còn đoàn quân bị sốt rét rừng lâm tiều tuỵ đi rụng hết cả tóc. Giọng điệu của câu thơ cứ y nh­ư là họ cố tình không mọc tóc vậy. Nghe ngang tàng kiêu bạc và thấy rõ sự bốc tếu rất lính tráng.

Các chi tiết “không mọc tóc, quân xanh màu lá” diễn tả cái gian khổ khác th­ường của cuộc đời ngư­ời lính trên một địa bàn hoạt động đặc biệt. Di chứng của những trận sốt rét rừng triền miên là “tóc không mọc” da xanh tái. Nh­ưng đối lập với ngoại hình tiều tụy ấy là sức mạnh phi th­ường tự bên trong phát ra từ tư­ thế “dữ oai hùm”. Với nghệ thuật t­ương phản chỉ 2 dòng thơ Quang Dũng làm nổi bật vẻ khác thư­ờng của đoàn quân Tây Tiến. Họ hiện lên như­ hình ảnh tráng sĩ tr­ượng phu một thuở qua hai câu tiếp:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

“Mắt trừng” biểu thị sự dồn nén căm uất đến cao độ như có khả năng thiêu đốt quân thù qua ánh sáng của đôi mắt. Hình ảnh thơ làm nổi bật ý chí của đoàn binh Tây Tiến. ở đây ng­ười lính Tây Tiến đ­ược đề cập đến với tất cả thực trạng mệt mỏi, vất vả qua các từ “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”. Chính từ thực trạng này mà chân dung ng­ười lính sinh động chân thực. Thế như­ng v­ượt lên trên khó khăn thiếu thốn, tâm hồn ng­ười lính vẫn cất cánh “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Câu thơ ánh lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến. Ban ngày “Mắt trừng gửi mộng” giấc mộng chinh phu hư­ớng về phía trận mạc như­ng khi bom đạn yên rồi giấc mộng ấy lại h­ướng về phía sau cũng là h­ướng về phía tr­ớc, phía t­ương lai hẹn ­ước. Một ngày về trong chiến thắng để nối lại giấc mơ xưa. ý chí thì mãnh liệt, tình cảm thì say đắm. Hai nét đẹp hài hòa trong tính cách của những chàng trai Tây Tiến.

Quang Dũng đã dùng hình ảnh đối lập: một bên là nấm mồ, một bên là ý chí của những ng­ười chiến binh:

Rải rác biên cư­ơng mồ viễn xứ

Chiến tr­ường đi chẳng tiếc đời xanh

áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gần lên khúc độc hành.

“Mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng hoang lạnh. Những nấm mồ rải rác trên đ­ường hành quân, nh­ng không thể cản đ­ược ý chí quyết ra đi của ngư­ời lính. Câu thơ sau chính là câu trả lời dứt khoát của những con ng­ười đứng cao hơn cái chết:

Chiến trư­ờng đi chẳng tiếc đời xanh.

Chính tình yêu quê h­ương đất nư­ớc sâu nặng đã giúp ng­ười lính coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Khi cần họ sẵn sàng hy sinh cho nghĩa lớn một cách thanh thản bình yên nh­ư giấc ngủ quên. Câu thơ vang lên như­  một lời thề đúng là cái chết của bậc tr­ượng phu

“áo bào thay chiếu anh về đất”

Nếu nh­ư ng­ười tráng sĩ phong kiến thuở tr­ước coi da ngựa bọc thây là lí tưởng thì anh bộ đội cụ Hồ ngày nay chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc một cách tự nhiên thầm lặng. Hình ảnh “áo bào” làm tăng không khí cổ kính trang trọng cho cái chết của ngư­ời lính. Hai chữ “áo bào” lấy từ văn học cổ tái tạo vẻ đẹp của một tráng sĩ và nó làm mờ đi thực tại thiếu thốn gian khổ ở chiến tr­ường. Nó cũng gợi đ­ược hào khí của chí trai “thời loạn sẵn sàng chết giữa sa trư­ờng lấy da ngựa bọc thây. Chữ “về” nói đ­ược thái độ nhẹ nhõm, ngạo nghễ của ngư­ời tráng sĩ đi vào cái chết “Anh về đất” là hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng, ng­ười lính Tây Tiến trở về trong niềm chở che của đất mẹ quê h­ương, của đồng đội. Trở về với nơi đã sinh dư­ỡng ra mình. Tr­ước những cái chết cao cả ở địa bàn xa xôi hẻo lánh sông Mã là nhân vật chứng kiến và tiễn đ­ưa.

Mở đầu bài thơ ta gặp ngay hình ảnh sông Mã, con sông ấy gắn liền với lịch sử đoàn quân Tây Tiến. Sông Mã chứng kiến mọi gian khổ, mọi chiến công và giờ đây lại chứng kiến sự hy sinh của ngư­ời lính. Đoạn thơ kết thúc bằng khúc ca bi tráng của sông Mã.

“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Dòng sông Mã là chứng nhân của một thời kỳ hào hùng, chứng kiến cái chết của ngư­ời tráng sĩ, nó gầm lên khúc độc hành bi phẫn, làm rung động cả một chốn hoang sơ. Câu thơ có cái không khí chiến trận của bản anh hùng ca thời cổ. Câu thơ đề cập đến mất mát đau th­ương mà vẫn hùng tráng.

Bốn câu kết:

Bốn câu thơ kết thúc đ­ược viết như­ những dòng chữ ghi vào mộ chí. Những dòng sông ấy cũng chính là lời thề của các chiến sĩ vệ quốc quân.

“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”

“Mùa xuân” có thể đ­ược dùng nhiều nghĩa: thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùa xuân 1947), mùa xuân của đất n­ước, mùa xuân (tuổi thanh xuân) của đời các chiến sĩ.

Hình ảnh “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”, “chẳng về xuôi” bỏ mình trên đư­ờng hành quân “Hồn về Sầm Nứa”: chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn hợp đồng tác chiến với quân tình nguyện Lào chống thực dân Pháp, thực hiện lý t­ưởng đến cùng. Bởi vậy dù đã ngã xuống trên đ­ường hành quân hồn (tinh thần của các anh) vẫn đi cùng với đồng đội, vẫn sống trong lòng đồng đội: Vang vọng âm h­ửơng văn tế của Nguyễn Đình Chiểu: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”.

 ĐỀ 3

Cảm nhận của anh chị về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn: ” Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ….. Sông Mã gầm lên khúc độchành” (Quang Dũng, Tây Tiến)

  1. Mở bài

Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ

được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị
Tây Tiến một thời gian.
– Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những người lính
Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau,
trong đó có cả học sinh, sinh viên.
– Đoạn thơ cần phân tích là đoạn thứ ba của bài thơ, trong đó Quang Dũng
đã khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến bằng bút pháp
lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.

               2. Thân bài

  1. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến :Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút
    pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường, sử dụng rộng
    rãi thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan người đọc, kích
    thích trí tưởng tượng phong phú của người đọc.
    – Trong bài thơ, Quang Dũng đã tạo được một không khí, chuẩn bị cho sự
    xuất hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ thứ ba này.
    Trên cái nền hoang vu hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội khác thường của
    núi rừng (ở đoạn một), và duyên dáng, mĩ lệ, thơ mộng của Tây Bắc (ở
    đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh những người lính Tây Tiến trực
    tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc đáo và kì lạ :
    Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
    … Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
    – Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính
    Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát những gương mặt
    chung của cả đoàn quân. Qua ngòi bút của ông, những người lính Tây Tiến
    hiện ra đầy oai phong và dữ dội khác thường. Thực tế gian khổ thiếu
    thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ trụi cả tóc.
    Quang Dũng không hề che giấu những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn
    lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái
    hình hài tiều tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường. Và ngòi bút
    lãng mạn của ông đã biến họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai
    hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua
    cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ nơi rừng
    thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện quan ánh mắt
    giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ …
    – cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua
    cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến là những
    tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ
    Hà Nội dáng kiều thơm). Như vậy, trong bốn câu thơ trên, Quang Dũng đã
    tạc lên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng
    những đường nét khắc họa dáng vẻ bề ngoài mà con thể hiện được cả thế
    giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.
    b. Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến :
    – Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái chết,
    sự hi sinh nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Cảm hứng lãng
    mạn đã khiến ngòi bút ông nói nhiều tới cái buồn, cái chết như là những
    chất liệu thẩm mỉ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng:
    Rải rác biên cương mồ viễn xứ
    ….Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
    – Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không
    hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi
    khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng,
    của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ
    rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên
    mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cái sự thật bi thảm những người
    lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu che thân,
    qua cái nhìn của nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang
    trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội
    của dòng sông Mã :
    Áo bào thay chiếu anh về đất
    Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
    Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả
    thật trang trọng. Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên
    nhiên. Và dòng sông Mã đã trân trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng
    cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng
    – Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này thấm
    đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của
    những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.           3. Kết bài
    Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của
    ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những
    người lính Tây Tiến, miêu tả được vẻ đẹp tinh thần của những con người
    tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không trở lại.
    – Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh người
    lính. Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình, đã góp vào
    viện bảo tàng hình ảnh những người lính đó bức chân dung người lính Tây
    Tiến rất độc đáo của mình.

             ĐỀ 4

Phân tích tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền
tây Bắc Bộ và những người đồng đội trong đoạn “Sông Mã xa rồi Tây Tiến
ơi ! …….. Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.” (Tây Tiến, Quang Dũng


Giữa cái bộn bề của thị trường thơ hôm nay, lật trang sách cũ,
gặp Tây Tiến của Quang Dũng, chợt xôn xao cõi lòng theo những
vần thơ đượm màu kiêu bạc hào hoa: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi…

Thơ hay có sức rung động mãnh liệt là vậy. Không cần tỉ mẩn
bóc từng câu từng chữ mà thấm vào lòng người sự rung cảm chân
thật đến run rẩy từng làn da thớ thịt. Tây Tiến đã thực sự
chinh phục người đọc bằng tâm trạng của người trai ra đi cứu
nước trong buổi đầu kháng chiến – với tâm tư in bóng trong dáng
hình sông núi:

”Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…”

Cảnh ấy cũng là tình. Cũng là sương, là hoa, là mây, là mưa –
những chi tiết thường gặp trong thơ cổ – nhưng còn đượm thêm
không khí trầm hùng của thời đại được diễn tả bằng những từ
ngữ, thanh điệu khi đọc lên ta cảm thấy ngang tàng. Hình ảnh
của một đoàn quân mỏi đi trong cái khúc khuỷu, thăm thẳm, heo
hút, giữa cái bồng bềnh sương khói chơi vơi được tác giả phác
hoạ bằng những nét chấm phá tài tình. Con mắt thơ không dừng
lại ở trong không gian rừng núi mà còn mở ra một không gian –
tâm trạng của một hồn thơ chiến sĩ. Phảng phất một chút Lý
Bạch trước Hoàng Hà – ngút ngát chí tang bồng của người trai
thời loạn. Trong gian nan của người chiến sĩ Tây Tiến, ta vẫn
gặp chút hóm hỉnh ở hình ảnh súng ngửi trời. Chạm mặt với
thực tế khắc nghiệt – song chất hào hoa lãng tử không mất đi
mà lại càng được tô đậm thêm, chân thật sống động trong những
câu thơ đượm tình quê, tình đồng đội, tình quân dân. Một hiện
thực về người lính Tây Tiến – anh Bộ đội Cụ Hồ trong những năm
đầu chiến đấu gian khổ. Đó là cơn mưa gợi nỗi nhớ nhà sâu
thẳm, là sợi khói cơm thơm quyện chặt tình người, một bóng
hình đong đưa làm xao xuyến những trái tim trai trẻ…
Bài thơ có nói đến hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng cảm xúc
hào hùng của lớp người “ra đi bảo tồn sông núi” đã lấn át
cái bi luỵ buồn thương. Đoàn binh Tây Tiến trong thơ Quang Dũng
như một sự kết tụ của tráng khí muôn đời, pha chút lãng mạn
kiểu Kinh Kha “một đi không trở lại”. Phải chăng với tinh thần
“coi cái chết nhẹ tựa lông hồng” mà toàn bài thơ mặc dù có
nói đến chết chóc nhưng giọng điệu rất bình thản: anh về đất?
Phải chăng khi xác định chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh,
người chiến sĩ đã nhận ra mục đích của cuộc chiến đấu còn
lớn hơn gấp vạn lần những gian khổ , hy sinh?
Bài thơ không cường điệu hoá cảm xúc dẫu trong âm điệu gân
guốc, khoẻ khoắn của toàn bài có những từ ngữ mang hơi hướng
cổ điển như xiêm áo, dữ oai hùm, mồ viễn xứ, áo bào, khúc
độc hành và cách diễn đạt tưởng chừng lạ lẫm tràn ngập không
khí lãng mạn. Nếu chỉ chăm chăm đi tìm chất thép trong bài thơ
theo quan điểm xã hội học thiển cận thì chẳng khác nào cầm
dao đâm vào cái đẹp. Cái đẹp của bài thơ viết ra từ lửa máu
đã làm rung lên những cảm xúc đồng điệu của bao thế hệ.
Nhà thơ Trần Lê Vân, người bạn thân, đã từng sống nhiều năm, từng in thơ
chung với Quang Dũng viết về hòan cảnh Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây
Tiến như sau:
“Đòan quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập
trung đòan 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được
chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, ngồi ở Phù Lưu
Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), anh viết bài tho Tây Tiến.”
Muốn hiểu được bài thơ Tây Tiến, truớc hết cần phải có những hiểu biết
về đoàn quân Tây Tiến cùng với địa bàn hoạt động của nó. Khoảng cuối mùa
xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị
thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo
vệ biên giới Lào-Việt, đánh tiêu hao địch ở Thượng Lào để hỗ trợ cho
cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào. Địa bàn hoạt động của
đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và
Thuợng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền
tây Thanh Hóa. Những nơi này, lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, núi
cao, sông sâu, rừng dày, có nhiều thú dữ.
Những người lính Tây Tiến phần đong là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều
tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên. Sinh hoạt
của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc
men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn vì đánh trận, tuy vậy, họ vẫn sống rất
lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc
nghiệt của chiến tranh và hòan cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ
được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn.

Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tinh thần
bi tráng. Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc
của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những
yếu tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi
thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ.
Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận
với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ
mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người Tây Bắc càng tô đậm
thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện
chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẳn sàng xả thân, hy sinh tất
cả cho lý tưởng chung của cộng đồng, của tòan dân tộc.
Tây Tiến không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không lụy. Cái bi được
thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất
lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.
Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:
Sông Mã xa rồi Tay Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi nhó chơi vơi
Sài Khao sương lấp đòan quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nỗi, nhà thơ đã thốt lên
thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi
nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực
thẳm, rừng dày,…liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Khổ thơ này là một bằng chứng “thi trung hữu họa”. Chỉ bằng bốn câu thơ,
Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hòanh tráng diễn tả sự hiểm trở và dữ
dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây Bắc, địa bàn họat dộng của
đòan quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ đẩy giá trị tạo hình khúc
khủyu, thăm thẳm. cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật chính xác sự
hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đồi Tây Bắc. Hai chữ
“ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh,
vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây ,
mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính trèo lên những ngọn núi cao
tưởng chừng như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ
ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, dổ xuống gần như thẳng đứng,
nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Nếu như câu thứ ba là
nhìn lên và nhìn xuống thì câu thứ tư là nhìn ngang. Có thể hình dung
cảnh nhữngngười lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang
ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mây núi thấy thấp thóang
những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi.
Bốn câu thơ này phối hợp với nhau tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba
câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét
rất mềm mại. Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu
trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh
làm dịu lại, như xoa mát cả khổ thơ.
Cái vẻ hoang dại dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng Tây Bắc
được nhà thơ tiếp tục khai thác. No’ không chỉ được mở ra theo chiều
không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối
đe dọa khủng khiếp đối với con người:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Vậy là, cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ và hiểm trở qua ngòi bút Quang
Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương
núi, thác gầm, cọp dữ,….Những tên đất lạ Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông,
Mường Hịch, những hình ảnh giàu trí tạo hình, những câu thơ nhiều vần
trắc đọc lên nghe vất vả nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu có nhiều
vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện
hình lên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáo của núi rừng Tây
Bắc.
Đọan thơ được kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội
suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản
làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi
ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt
những người lính , khiến họ tươi tỉnh hẳn lai. Hai câu thơ này tạo nên
một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuan bị tư thế cho người đọc bước sang đọan
thơ thứ hai.

Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên
hình ảnh của những anh hùng vô danh nhưng văn học với sứ mệnh thiêng
liêng của nó đã khắc tạc một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình
ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập
của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. ở trong thơ Quang Dũng cũng đã
dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong
cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là
bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống
trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian
“Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc – Quân xanh màu lá dữ oai hùm – Mắt
trừng gửi mộng qua biên giới – Đêm mơ Hnội dáng kiều thơm – Rải rác biên
cương mồ viễn xứ – Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh – áo bào thay
chiếu anh về đất – Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
“Tây Tiến” của Quang Dũng là dòng hồi ức vô cùng thương nhớ về những
đồng đội của nhà thơ, những người đã từng sống, từng chiến đấu nhưng
cũng có người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ yêu thương,
nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên cương hay
miền viễn xứ. Chính vì thế QDũng không chỉ dựng lại cả một hình ảnh của
đoàn binh Tây Tiến trên những chặng đường hành quân gian khổ hy sinh mà
“đời vẫn cứ tươi” như ở 14 dòng thơ đầu tiên. Và QDũng cũng không chỉ
khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức
phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân. QDũng đã đặc biệt
quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm
của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt
những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn
tượng mạnh để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh
những người con anh hùng của đất nước, của dtộc. Đó là bức tượng đài
sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng
ta đã thấy trong các câu thơ
“Tây Tiến đoàn quân ….. khúc độc hành”
Bức tượng đài người lính Tây Tiến trước hết được khắc hoạ lên từ những
đường nét nhằm tô đậm cuộc sống gian khổ của họ. Nếu như ở những đoạn
thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong đoàn quân mỏi trong câu:
” Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ”
hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại
thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh
như lá rừng. Cảm hứng chân thực của QDũng đã không né tránh việc mô tả
cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng
làm tóc họ không thể mọc được (chứ không phải họ cố tình cạo trọc để
đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì sốt rét rừng
mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá nguỵ trang), vẻ
ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế giới tinh thần của người lính
lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa
đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ dũng mãnh như hổ báo, hùm beo.
Cái giỏi của QDũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ
nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” với những thanh trắc rơi vào trọng âm
đầu của câu thơ như “tiến”, “mọc tóc”. Nhờ những thanh trắc ấy mà âm
hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một đoàn binh. 2
chữ “đoàn binh” âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang,
hùng dũng. Và đặc biệt hai chữ “Tây Tiến” mở đầu câu thơ không chỉ còn
là tên gọi của đoàn binh nữa, nó gợi ra hình ảnh một đoàn binh dù đầu
không mọc tóc vẫn đang quả cảm tiến bước về phía Tây. Thủ pháp tương
phản mà QDũng sử dụng ở câu thơ “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” không chỉ
làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu
sắc văn hoá của dân tộc. ở đây, nhà thơ không chỉ muốn nói rằng những
người lính Tây Tiến như chúa sơn lâm, không phải muốn “động vật hoá”
người lính Tây Tiến mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng
một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi
người anh hùng vệ quốc trong câu thơ
“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu – Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu”
Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết
“Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu – Thể diện sài long xâm lược quân”
Có thể nói QDũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương Đông để
câu thơ mang âm vang của lsử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền
với sức mạnh truyền thống của dtộc. Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ
oai hùm” ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông á.
Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi QDũng bổ
sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới – Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng về Thủ
đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào
cũng hướng về HNội. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:
“Từ thuở mang gươm đi mở nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”
Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” mà niềm
thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Đã một thời, với cái
nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ vẻ đẹp ấy
của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, người lính
trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. QuDũng đã
tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên
cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đsống tâm hồn
phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo
tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ,
thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều
thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa.
Bức tượng đài người lính Tây Tiến đã được khắc tạc bằng những nguồn ánh
sáng tương phản lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn. Từng đường nét đều
như nổi bật và tạo được những ấn tượng mạnh mẽ. Đây cũng là đặc trưng
của thơ QDũng.
Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một
đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một
thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính
Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của
họ. Nếu chỉ đọc từng câu thơ, chỉ phân tích từng hình ảnh riêng rẽ độc
lập, người ta dễ cảm nhận một cách bi luỵ về cái chết của người lính mà
thơ ca kháng chiến thuở ấy rất ít khi nói đến. Bởi thơ ca kháng chiến
phần lớn chỉ quan tâm đến cái hùng mà không quan tâm đến cái bi. Nhưng
nếu đặt các hình ảnh, các câu thơ vào trong chỉnh thể của nó, ta sẽ hiểu
QDũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người lính bằng cảm
hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn
có sức bay bổng.
Có thể thấy câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” nếu tách riêng ra
rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết, về nấm mồ
của người lính Tây Tiến ở nơi “viễn xứ”. Từng chữ từng chữ dường như
mỗi lúc một nhấn thêm nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ. Chẳng phải
thế sao? Nói về những nấm mồ, lại là những nấm mồ “rải rác” dễ gợi sự
hoang lạnh, lại là “rải rác” nơi “viễn xứ”, những nấm mồ ấy càng gợi sự
cô đơn côi cút. QDũng muốn nói tới nơi yên nghỉ của những người đồng đội
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa – Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Trong Chinh phụ ngâm:
“Hồn tử sĩ gió về ù ù thổi – Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi – Chinh phu tử sĩ mấy người – Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn”
Tuy nhiên với câu thơ thứ hai, ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải rác
nơi biên cương đã trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của nhân dân,
của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ của những người con anh dũng
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Đồng thời cũng chính câu thơ thứ 2 đã làm cho những nấm mồ rải rác kia
được nâng lên những tầng cao của đài tưởng niệm, của Tổ quốc đối với
người lính đã vì tiếng gọi của chiến trường mà hiến dâng tuổi xanh của
mình. Trong thơ QDũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh như
vậy.
Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ
“áo bào thay chiếu anh về đất”
Bao nhiêu thương yêu của QDũng trong một câu thơ như vậy về một đồng đội
của mình. Ai bảo QDũng không xót thương những người đồng đội của mình
ra đi trong cách tiễn đưa ấy, cảnh tiễn đưa với bao thiếu thốn, khó
khăn, cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết
vì chiến trận. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó khăn nên tiễn đưa
người chết không có cả một chiếc quan tài. Hoàng Lộc trong “Viếng bạn”
cũng đã viết về cảnh tiễn đưa như thế
“ở đây không manh ván – Chôn anh bằng tấm chăn – Của đồng bào Cứa Ngàn – Tặng tôi ngày sơ tán”
Chỉ có điều câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên
thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên
trang nghiêm, cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc chiếu cũng không có,
chỉ có chính tấm áo của người lính. Dù hiểu theo cách nào thì cũng phải
thấy QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc
áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất
nước, với núi sông. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử
hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ.
Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng
mạn, QDũng đã dựng lên bức chân dung , một bức tượng đài người lính
cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức
mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm
cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng
đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là
bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của QDũng đối với những
người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã
vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những
người con anh hùng ấy.
Xem thêm các bài liên quan đến tác phẩm Tây Tiến – Quang Dũng tại đây

360dogame

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Read also x