Hôm nay Thứ Ba, 27th Tháng Mười 2020
360 Độ Game

Trang Tin Game Số #1 Việt Nam

[Ôn Thi Đại Học Môn Văn Phần 1] Chuyên đề 7: Hướng Dẫn Làm Các Dạng Bài Tập Đọc Hiểu 1

Các bài trên chúng ta đã cùng tìm hiểu về phần lý thuyết các  dang bài liên quan đến phần đọc hiểu. Sau đây, để việc ôn thi có hiệu quả chúng ta cùng đi giải một số bài tập đọc hiểu. Các bài tập này bao gồm các dạng đề sát với kiến thức rơi vào trong kỳ thi THPT Quốc gia 2018.
Dưới đây là nội dung bài, [Ôn Thi Đại Học Môn Văn Phần 1] Chuyên đề 7: Hướng Dẫn Làm Các Dạng Bài Tập Đọc Hiểu 1.

Đề 1

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
      Cái quý giá nhất trên đời mà mỗi người có thể góp phần mang lại cho chính mình và cho người khác đó là “năng lực tạo ra hạnh phúc”, bao gồm năng lực làm người, năng lực làm việc và năng lực làm dân.
     Năng lực làm người là có cái đầu phân biệt được thiện – ác, chân – giả, chính – tà, đúng – sai…, biết được mình là ai, biết sống vì cái gì, có trái tim chan chứa yêu thương và giàu lòng trắc ẩn. Năng lực làm việc là khả năng giải quyết được những vấn đề của cuộc sống, của công việc, của chuyên môn, và thậm chí là của xã hội. Năng lực làm dân là biết được làm chủ đất nước là làm chủ cái gì và có khả năng để làm được những điều đó. Khi con người có được những năng lực làm việc này thì sẽ thực hiện được những điều mình muốn. Khi đó mỗi người sẽ trở thành một “tế bào hạnh phúc”, một “nhà máy hạnh phúc” và sẽ ngày ngày “sản xuất hạnh phúc” cho mình và cho mọi người.
     Xã hội mở ngày nay làm cho không ai là “nhỏ bé” trên cuộc đời này, trừ khi tự mình muốn “nhỏ bé”. Ai cũng có thể trở thành những “con người lớn” bằng hai cách, làm được những việc lớn hoặc làm được những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn. Và khi biết chọn cho mình một lẽ sống phù hợp rồi sống hết mình và cháy hết mình với nó, mỗi người sẽ có được một hạnh phúc trọn vẹn. Khi đó, ta không chỉ có những khoảnh khắc hạnh phúc, mà còn có cả một cuộc đời hạnh phúc. Khi đó, tôi hạnh phúc, bạn hạnh phúc và chúng ta hạnh phúc. Đó cũng là lúc ta thực sự “chạm” vào hạnh phúc.
(Để chạm vào hạnh phúc – Giản Tư Trung, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, 3/2/2012)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích.
Câu 3. Tại sao tác giả lại cho rằng: Xã hội mở ngày nay làm cho không ai là “nhỏ bé”?
Câu 4. Anh/Chị chọn cách “chạm” vào hạnh phúc bằng việc “làm những việc lớn” hay “làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn”. Vì sao?
Hướng dẫn trả lời
Câu 1 (0.5 điểm)
Phương thức biểu đạt chính là nghị luận
Điểm 0.5 : Trả lời đúng ý trên.
Điểm 0 : Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 2 (1 điểm)
Nội dung chính của đoạn trích: Bàn về năng lực tạo ra hạnh phúc và cách thức để chạm đến hạnh phúc của con người.
Điểm 1 : Trả lời đúng, đủ các ý trên.
Điểm 0.5: Trả lời được nửa các ý trên.
Điểm 0 : Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 3 (0.75 điểm)
Theo tác giả, Xã hội mở ngày nay làm cho không ai là “nhỏ bé”, bởi vì: 
Ai cũng có thể trở thành những “con người lớn” bằng hai cách, làm được những việc lớn hoặc làm được những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn.
Điểm 0.75 : Trả lời đúng ý trên.
Điểm 0 : Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 4 (0.75điểm)
– Trình bày được sự lựa chọn lối sống theo quan điểm riêng của bản thân: hoặc làm những việc lớn, hoặc làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn, hoặc kết hợp cả hai tùy vào từng thời điểm trong cuộc đời.
– Nêu lí do thuyết phục để khẳng định sự lựa chọn theo quan điểm riêng của bản thân.
Điểm 0.75 : Trả lời đúng, bày tỏ được quan điểm, suy nghĩ của bản thân về tinh thần trách nhiệm với cộng đồng
Điểm 0.25: Trả lời sơ sài.
Điểm 0 : Trả lời sai hoặc không trả lời.

Đề 2

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 4
Tôi chưa từng đi qua chiến tranh
Chưa thấy hết sự hi sinh của bao người ngã xuống
Thưở quê hương còn gồng gánh nỗi đau
(…)
Tôi lớn lên từ những khúc dân ca
Khoan nhặt tiếng đờn kìm
Ngân nga sáo trúc
Đêm trăng thu say sưa nghe bà kể
Chú Cuội một mình ngồi gốc cây đa.
 
Thời gian qua
Xin cảm ơn đất nước
Bom đạn mấy mươi năm vẫn lúa reo sóng hát
Còn vọng vang với những câu Kiều
Trong từng ngần ấy những thương yêu
Tiếng mẹ ru hời
Điệu hò thánh thót
Mang hình bóng quê hương tôi lớn thành người.
(Cảm ơn đất nước – Huỳnh Thanh Hồng)
1) Xác định hai phương thức biểu đạt trong văn bản trên
2) “Hình bóng quê hương” được miêu tả bằng những từ ngữ, hình ảnh, phương diện nào ?
3) Tác giả đã thể hiện thái độ, tình cảm gì trong văn bản trên.
4) Anh chị viết một đoạn văn ngắn nêu ý kiến về những điều cần làm, thái độ cần có của giới trẻ đối với quá khứ hào hùng, truyền thống anh dũng của đất nước.
Hướng dẫn trả lời
Về kĩ năng
Biết cách đọc hiểu văn bản, câu trả lời mạch lạc, ngắn gọn, không mắc lỗi chính tả, dùng từ hoặc đặt câu.
b.Về kiến thức
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các nội dung cơ bản sau:

Ý Nội dung Điểm
1 Hai phương thức biếu đạt trong văn bản: biểu cảm, tự sự. 0,5
2 Hình bóng quê hương được tác giả miêu tả bằng những giá trị vật chất ( lúa reo, sóng hát) và những giá trị tinh thần bất biến ( khúc dân ca, điệu hò với những thanh âm dân tộc thân quen, lời ru của mẹ, câu chuyện cổ tích bà hay kể, Truyện Kiều…) dù chiến tranh đau thương tàn phá 0,5
3 Tác giả thể hiện tình cảm ngợi ca, trân trọng những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc, đồng thời thể hiện sự biết ơn sâu sắc bao lớp người đi trước gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy. 1,0
4 –         Có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng cần đạt được những ý cơ bản :+ Hiểu được thành quả vĩ đại của dân tộc ta đã giành được, những truyền thống quí báu đã được gìn giữ phát huy qua bao cuộc chiến tranh giữ nước và quá trình xây dựng đất nước.
+ Bồi dưỡng niềm say mê, yêu thích lịch sử, có kiến thức sâu rộng về lịch sử dân tộc, am hiểu truyền thống đất nước.
+ Mỗi cá nhân phải cố gắng giữ được bản sắc truyền thống, cốt cách văn hóa của dân tộc.

Đề 3

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 4
Đắp cho anh nấm đất mặn nơi này
Nơi anh ngã muối ngấm vào vết đạn
Xót thịt xót xương, xót người nằm xuống
Thủy triều lên nấm mộ cũng ngập chìm
(…)
Người còn sống đi đón người đã khuất
Xuống ghe đưa các anh về nghĩa trang
 
Từ hoang vắng mọi ngả rừng, gốc rạch
Các anh về đây ở thành xóm thành làng.
Múi mắt là biển khơi và rừng đước đại ngàn
Cồn cào gió và cồn cào sóng vỗ
Gốc đước già tạc mộ chí cho anh
Có đá của lòng người trong thớ gỗ.
Hàng chữ đọng sơn như mắt người ứa lệ
Như mắt người nhìn nhau
Như lời ai rơm rớm trên hàng bia mộ
Có những người không quê ở Cà Mau!
(Nấm mộ trong rừng đước – Nguyễn Duy)
1) Xác định hai phương thức biểu đạt trong văn bản trên
2) Chỉ ra và phân tích hiệu quả biểu đạt của những biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ:
Hàng chữ đọng sơn như mắt người ứa lệ
Như mắt người nhìn nhau
Như lời ai rơm rớm trên hàng bia mộ
Có những người không quê ở Cà Mau!
3) Tác giả đã thể hiện thái độ, tình cảm gì trong văn bản trên.
4) Anh chị viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của anh chị về đoạn thơ trên.
 
Hướng dẫn trả lời
Về kĩ năng
Biết cách đọc hiểu văn bản, câu trả lời mạch lạc, ngắn gọn, không mắc lỗi chính tả, dùng từ hoặc đặt câu.
Về kiến thức
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các nội dung cơ bản sau:

Ý Nội dung Điểm
1 Hai phương thức biểu đạt nổi bật trong đoạn thơ : Miêu tả, tự sự. 0,5
2 – Các biện pháp tu từ trong đoạn:  So sánh ( như mắt người ứa lệ/ như mắt người nhìn nhau/ như lời ai rơm rớm trên hàng bia mộ), điệp ngữ ( mắt người) .– Hiệu quả biểu đạt: miêu tả cụ thể sinh động, đầy cảm xúc những dòng chữ ghi trên bia mộ người lính và nhấn mạnh ý nghĩa thiêng liêng của những dòng chữ ấy.
 
0,5
 
 
0,5
3 Tác giả thể hiện tình cảm xót xa, đau đớn, tiếc thương những đồng đội đã ngã xuống. 0,5
4 – Có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng cần đạt được những ý cơ bản:+ Xót xa trước những đau thương mất mát của chiến tranh
+ Biết ơn công lao của những người đã ngã xuống.

Đề 4

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
“Bất cứ ai cũng đã từng thất bại, đã từng vấp ngã ít nhất một lần trong đời như một quy luật bất biến của tự nhiên. Có nhiều người có khả năng vực dậy, đứng lên rồi nhẹ nhàng bước tiếp như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, nhưng cũng có nhiều người chỉ có thể ngồi một chỗ và vẫn luôn tự hỏi lí do vì sao bản thân lại có thể dễ dàng “mắc bẫy” đến như thế…
      Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng giá: Về một bài toán đã áp dụng cách giải sai, về lòng tốt đã gửi nhầm chủ nhân hay về một tình yêu lâu dài bỗng phát hiện đã  trao nhầm đối tượng. 
(…) Đừng để khi tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để khi cơn mưa kia đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi. Thời gian làm tuổi trẻ đi qua nhanh lắm, không gì là mãi mãi, nên hãy sống hết mình để không nuối tiếc những gì chỉ còn lại trong quá khứ mà thôi…”
(Trích: Hãy học cách đứng lên sau vấp ngã – Nguồn: www.vietgiaitri.com, 4/6/2015)
Câu 1: Hãy chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn văn?
Câu 2: Đoạn văn trên đề cập đến nội dung gì?
Câu 3: Theo anh/chi vì sao tác giả lại cho rằng “Bất kì vấp ngã nào trong cuộc sống cũng đều mang lại cho ta một bài học đáng giá”?
Câu 4: Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì trong hai câu văn sau: “Đừng để khi tia nắng ngoài kia đã lên, mà con tim vẫn còn băng lạnh. Đừng để khi cơn mưa kia đã tạnh, mà những giọt lệ trên mi mắt vẫn còn tuôn rơi”? Hãy phân tích hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ đó? (1điểm)
Hướng dẫn trả lời
1 Phương thức biểu đạt chính là nghị luận. 0,5
2 Nội dung đoạn trích:
– Ai cũng từng bị vấp ngã. Nhiều người đứng dậy và bước đi nhẹ nhàng. Nhưng có người không thể đứng dậy.
– Hãy biết đứng lên sau vấp ngã vì mỗi lần vấp ngã là một lần ta rút ra được những bài học cho bản thân.
– Tuổi trẻ trôi đi rất nhanh, hãy sống hết mình để không phải nuối tiếc khi nhìn lại quá khứ.
* Học sinh có thể trình bầy theo nhiều cách nhưng vẫn hướng vào nội dung nói trên
3 -Về một bài toán đã áp dụng cách giải sai;
-Về lòng tốt đã gửi nhầm chủ nhân;
– Một tình yêu lâu dài bỗng phát hiện đã trao nhầm đối tượng. 0,25
4 Học sinh trả lời được một trong ba phép tu từ sau:
* Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (Đừng để khi) ; điệp cấu trúc ngữ pháp (lặp CTNP); đối lập (tia nắng…đã lên><giọt lê….rơi).
* Tác dụng: – Điệp ngữ ; điệp cấu trúc ngữ pháp: Tạo âm hưởng nhịp nhàng, cân đối. Nhấn mạnh, khuyến khính mọi người hãy từ bỏ những ưu phiền để sống vui vẻ, hòa nhịp với thế giới xung quanh…
– Đối lập: Làm nổi bật sự trái ngược giữa ngoại cảnh với tâm trạng con người, nhằm khích lệ con người từ bỏ những ưu phiền, hướng đến cuộc sống vui tươi, ý nghĩa….
.(HS có thể trả lời theo nhiều cách những vẫn xoay quanh tác dụng nêu ở trên)

Đề 5

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm):
Đọc đoạn thơ sau đây và thực hiện các yêu cầu sau:
Hùng vĩ thay, toàn thân đất nước
Tựa Trường Sơn, vươn tới Trường Sa
Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước
Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa.
 
Đã qua, thuở âm u bóng tang, tàn lụi cỏ cây
 Đã qua, nỗi đêm Nam ngày Bắc
Giữa quê hương mà như kiếp đi đày!(…)
 
Tôi lại mơ… Trên Thái Bình Dương
Tổ quốc ta như một thiên đường
 Của muôn triệu anh hùng làm nên cuộc sống
Của tự do, hy vọng, tình thương…
(Trích Vui thế hôm nay… – Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 1999)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)
Câu 2. Trong khổ thơ đầu tiên, tác giả đã dùng những hình ảnh nào để làm rõ sự “hùng vĩ” của “toàn thân đất nước”? (0,75điểm)
Câu 3. xác định các biện pháp nghệ thuật tu từ được sử dụng trong khổ thơ đầu? nêu tác dụng của các biện pháp đó? (0,75 điểm)
Câu 4. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên (1,0điểm)
Hướng dẫn trả lời
Câu 1.
Chỉ ra phương thức biểu đạt chính: biểu cảm 0,5đ
Câu 2
Những hình ảnh nào để làm rõ sự “hùng vĩ” của “toàn thân đất nước”
Tựa Trường Sơn, vươn tới Trường Sa
Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước
Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa 0,75đ
Câu 3. Nội dung chính của đoạn thơ trên
Thí sinh đảm bảo các ý sau:
+ Đất nước Việt Nam hùng vĩ, tươi đẹp
+ Niềm vui của cuộc sống mới: Hòa bình, tự do, hi vọng và tình thương. 0,75đ
Câu 4 Biện pháp nghệ thuật tu từ được sử dụng trong khổ thơ đầu: Nhân hóa, so sánh.
Tác dụng: làm cho hình tượng đất nước trở nên cụ thể, giầy sức gợi. 1,0đ

Đề 6

Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu:
Âu là ta phải nhận rằng trời đất không phải dựng lên cùng một lần với thế hệ chúng ta. Hôm nay đã phôi thai từ hôm qua và trong cái mới vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ. Các thời đại vẫn liên tiếp cùng nhau và muốn rõ đặc sắc mỗi thời phải nhìn vào đại thể.        
Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thơ thời xưa – hay thơ cũ – và thơ thời nay – hay thơ mới – có thể gồm lại trong hai chữ tôi và ta. Ngày trước là thời của chữ ta, bây giờ là thời của chữ tôi. Nó giống nhau thì vẫn có chỗ giống nhau như chữ tôi vẫn giống chữ ta. Nhưng chũng ta hãy đi tìm những chỗ khác nhau.
(Trích Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân)
Câu 1. Xác định thể loại văn bản của đoạn trích trên.
Câu 2. Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng thao tác lập luận nào là chủ yếu?
Câu 3. Nội dung của đoạn văn bản trên là gì?
Câu 4. Dựa vào những hiểu biết văn học của bản thân và nội dung đoạn trích trên, anh/ chị hãy nói ngắn gọn sự khác nhau cơ bản giữa chữ “tôi” và chữ “ta” trong thơ ca.
Hướng dẫn trả lời
Câu 1. Thể loại văn bản là: thể loại nghị luận/ văn nghị luận/ nghị luận.
– Điểm 0.25: Tả lời đúng một trong các phương án trên.
– Điểm 0.0: Trả lờ sai hoặc không trả lời
Câu 2. Thao tác lập luận so sánh/ thao tác so sánh/ lập luận so sánh/ so sánh.
– Điểm 0.25: Trả lời đúng theo một trong các cách trên
– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
Câu 3. Nội dung của đoạn văn bản trên là cách để xác định tinh thần “Thơ mới” và chỉ rõ tinh thần “Thơ mới” là ở chữ “tôi”, phân biệt với “thơ cũ” là chữ “ta”.
– Điểm 0.5: Trả lời đúng và đầy đủ những nội dung trên.
– Điểm 0.25: Trả lời được 1/2 nội dung; hoạc câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý
– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
Câu 4. Sự khác nhau cơ bản giữa chữ “tôi” và chữ “ta” trong thơ ca (thơ xưa và thơ nay): chữ “tôi” là tiếng nói nhân danh cộng đồng, thiên về cái phi ngã, đoàn thể; chữ “ta” là tiếng nói nhân danh con người cá nhân, thiên về cái bản ngã, cá thể.
– Điểm 0.5: Trả lời được đầy đủ những nội dung trên.
– Điểm 0.25: Trả lời được 1/2 nội dung trên; hoặc câu trả lời còn chung chung.
– Điểm 0.0: trả lời sai hoặc không trả lời.

Đề 7

Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi:
“… (1) Thật vậy, Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc từng viết: “Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa”. Đáng tiếc, cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha. Sách in nhiều nơi không bán được, nhiều nhà xuất bản đóng cửa vì thua lỗ, đặc biệt . Nhiều gia đình giàu có thay tủ sách bằng tủ … rượu các loại. Các thư viện lớn của các thành phố hay của tỉnh cũng chỉ hoạt động cầm chừng, cố duy trì sự tồn tại.
…(2) Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những quyển sách giấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi cơm, lúc tha thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus… Hay hình ảnh những công dân nước Nhật mỗi người một quyển sách trên tay lúc ngồi chờ tàu xe, xem hát, v.v… càng khiến chúng ta thêm yêu mến và khâm phục. Ngày nay, hình ảnh ấy đã bớt đi nhiều, thay vào đó là cái máy tính hay cái điện thoại di động. Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay…”
(Trích “Suy nghĩ về đọc sách” – Trần Hoàng Vy, Báo Giáo dục & Thời đại, Thứ hai ngày 13.4.2015)
Câu 1. Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,5 điểm)
Câu 2. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích trên. (1,0 điểm)
Câu 3. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng: “cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha”? (1,0 điểm)
Câu 4.  Có ý kiến cho rằng: Thời nay, đọc sách là lạc hậu. Sống trong thời đại công nghệ thông tin thì phải lên mạng đọc vừa nhanh, vừa dễ, vừa đỡ tốn kém. Anh/ chị có đồng tình với ý kiến đó không? Vì sao? (0,5 điểm)
Hướng dẫn trả lời
Câu 1: (0,5 điểm)
Thao tác lập luận so sánh/ thao tác so sánh/ so sánh

  • Mức đầy đủ: trả lời đúng như đáp án trên
  • Mức không tính điểm: không trả lời hoặc có câu trả lời khác.

Câu 2: (1,0 điểm)
Câu văn khái quát chủ đề: Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay.
+ Mức đầy đủ: hs trả lời được như nội dung trên. (1,0 điểm)
+ Mức không tính điểm: không trả lời hoặc có câu trả lời khác.
Câu 3:(1,0 điểm)
Tác giả cho rằng “cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha” vì ở thời đại công nghệ số, con người chỉ cần gõ bàn phím máy tính hoặc điện thoại di động đã có thể tiếp cận thông tin ở nhiều phương diện của đời sống, tại bất cứ nơi đâu, trong bất kì thời gian nào, nên việc đọc sách đã dần trở nên phôi pha.
+ Mức đầy đủ: hs trả lời được như nội dung trên.
+ Mức không đầy đủ: sách bị cạnh tranh khốc liệt bởi những phương tiện nghe nhìn như ti vi, Ipad, điện thoại Smart, và hệ thống sách báo điện tử trên Internet…
+ Mức không tính điểm: không trả lời hoặc có câu trả lời khác.
Câu 4: (0,5 điểm)
– Mức đầy đủ: hs bày tỏ ý kiến đồng tình hoặc không đồng tình và lí giải thuyết phục.
–  Mức không tính điểm: không trả lời hoặc có câu trả lời khác.

Đề 8

Nhiều người An Nam thích bập bẹ năm ba tiếng Tây hơn là diễn tả ý tưởng cho mạch lạc bằng tiếng nước mình. Hình như đối với họ, việc sử dụng Pháp ngữ là một dấu hiệu thuộc giai cấp quý tộc, cũng như sử dụng nước suối Pe-ri-ê (Perrier) và rượu khai vị biểu trưng cho nền văn minh châu Âu. Nhiều người An Nam bị Tây hóa hiện nay tưởng rằng khi cóp nhặt những cái tầm thường của phong hóa châu Âu họ sẽ làm cho đồng bào của mình tin là họ đã được đào tạo theo kiểu Tây phương.
  Thái độ mù tịt về văn hóa châu Âu như thế không nên làm chúng ta ngạc nhiên. Vì chỉ có những người đã hiểu biết vững một nền văn hóa rồi mới có khả năng thưởng thức một nền văn hóa ngoại bang. Những kiểu kiến trúc và trang trí lai căng của những ngôi nhà thuộc về những người An Nam được hun đúc theo cái mà những người ở Đông Dương gọi là văn minh Pháp, chứng tỏ rằng những người An Nam bị Tây hóa chẳng có được một thứ văn minh nào. Việc từ bỏ văn hóa cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng.
(Trích “Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức” – Nguyễn An Ninh)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn bản trên?
Câu 2 (0,5 điểm): Câu văn “Việc từ bỏ văn hóa cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng” thể hiện đặc trưng nào của phong cách ngôn ngữ mà anh/ chị đã xác định đúng trong câu hỏi 1?
Câu 3 (1,0 điểm): Hãy nêu nội dung chính của đoạn văn bản trên.
Câu 4 (1,0 điểm): Thái độ và quan điểm của Nguyễn An Ninh đối với vấn đề nêu ra trong văn bản?
Hướng dẫn trả lời
Câu 1: Đoạn văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận kết hợp với phong cách ngôn ngữ báo chí ( Nếu HS chỉ trả lời là thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận thì vẫn cho điểm tối đa).
Câu 2: Câu văn “Việc từ bỏ văn hóa cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng” thể hiện một đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ chính luận: Tính công khai về quan điểm chính trị.
Câu 3: Ý chính của đoạn văn bản trên gồm:
– Thói xấu của một bộ phận người An Nam đương thời: nói tiếng Pháp như một thứ trang sức để tỏ ra mình được đào tạo theo kiểu Tây phương chứ thực sự không hiểu sâu sắc văn hóa Tây phương.
– Đằng sau hành động đó là sự lai căng văn hóa, không hiểu rõ bất cứ nền văn hóa nào, kể cả văn hóa bản địa lẫn văn hóa nước ngoài.
– Đó là một hiện tượng khiến cho những người “tha thiết với giống nòi” phải lo lắng.
Câu 4: Thái độ và quan điểm của Nguyễn An Ninh đối với vấn đề nêu ra trong văn bản?
– Thái độ: lo lắng, bức xúc trước những thói xấu và sự lai căng văn hóa của một bộ phận người An Nam đương thời.
– Quan điểm: lên án thói xấu và sự lai căng văn hóa của một bộ phận người An Nam đồng thời kêu gọi sự đồng tình của “những người An Nam tha thiết với giống nòi”.
 
( Còn nữa… )

360dogame

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Read also x